Sign Up
LiketLy "Happy Index" help you save happy moments in life!

Quan điểm của Trung Quốc về chủ quyền trên biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và tranh chấp với Việt Nam về vấn đề 2 quần đảo Tr

Nguồn: 

Quan điểm của Trung Quốc về chủ quyền trên biển Nam Trung Hoa (Biển Đông)

Mục lục 

 

I.   LỜI MỞ ĐẦU ....................................................... ....................................................... ..........3 

II.   BỐI CẢNH ....................................................... ....................................................... .............4 

1. Vai trò của vùng biển Nam Trung Hoa ( biển Đông ) và hai quần đảo Trường Sa Hoàng Sa 4 

2. Các bên tranh chấp  ...................................................... ....................................................... .5 

III.   VIỆN DẪN CỦA TRUNG QUỐC ....................................................... .................................6 

IV.   TÍNH TOÁN CỦA TRUNG QUỐC ....................................................... ...............................8 

Xuất phát điểm của những tính toán ....................................................... .................................8 

Những động thái gần đây của nhà cầm quyền Trung Quốc ....................................................  11 

V.   ĐÁNH GIÁ TRANH CHẤP, GIẢI PHÁP VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ  ........................................  12 

1.Đánh giá tranh chấp  ...................................................... ......................................................  12 

2.Giải pháp  ...................................................... ....................................................... ...............  13 

3.Bài học lịch sử  ...................................................... ....................................................... .......  15 

VI.   KẾT LUẬN:  ...................................................... ....................................................... ..........  16 

Tài liệu tham khảo....................................................... ....................................................... .......  17 

 

I.   LỜI MỞ ĐẦU 

Trong bối  cảnh khi mà  cuộc  khủng hoảng năng  lượng nguyên  liệu đang ngày  càng  trở 

nên  trầm  trọng  trên  thế giới và vai  trò của đại dương đang ngày càng gia  tăng  ít nhất  là 

trong quan niệm của các nhà nghiên cứu “Thế kỷ 21 là thế kỷ của Biển” thì việc sở hữu 

các  vùng  lãnh  thổ  dồi  dào  về  khả  năng  khai  thác  tài  nguyên,  đặc  biệt  là  dầu mỏ,  các 

nguồn hải sản và những tuyến đường giao thông huyết mạch trên biển trở thành một đặc 

quyền đối  với bất kỳ quốc  gia nào. Điều này  là một  trong những  khởi nguồn  cho mọi 

tranh chấp về lãnh thổ hiện nay trên thế giới, trong đó có tranh chấp trên biển Nam Trung 

Hoa (biển Đông) khi các nước ven biển đều tuyên bố chủ quyền và tất cả các bên đều rất 

cứng giọng đầy kiên quyết. Hy vọng phát hiện nguồn dự trữ dầu hỏa và khí đốt dồi dào 

càng  làm họ cứng  rắn hơn. Vì  thế, chúng  ta  thường  thấy hầu hết các bên đều  tìm cách 

củng cố sự kiểm soát những hòn đảo mà họ đã giữ được, và sẽ phản ứng mạnh trước hành 

vi đơn phương của các bên khác. 

Tranh chấp mới nhất xảy ra trong bối cảnh tất cả các bên đều bị ảnh hưởng nặng bởi suy 

thoái kinh  tế  toàn cầu. Khủng hoảng kinh  tế không chỉ  là cú giáng vào các nền kinh  tế 

châu Á, mà có thể có tác động xấu tới hòa bình và ổn định khu vực. 

“Ai chiếm được Trường Sa Hoàng Sa sẽ làm chủ được biển Đông”. Điều này dường như 

luôn ám ảnh các nước tham gia vào cuộc tranh chấp. Và không thể phủ nhận nó cũng là 

nỗi ám ảnh lớn đối với Trung Quốc. 

Vậy Vì sao các nước và đặc biệt là Trung Quốc lại ra sức khẳng định chủ quyền với hai 

quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa)? Và đề chứng 

minh  cho  chủ  quyền  này Những  luận  cứ  người Trung Quốc  đưa  ra  là  gì? Từ  đó  có  thể  thấy 

Những tính toán của Trung Quốc với việc xác  lập chủ quyền này? Từ góc độ quốc tế, Việt Nam 

cần  làm những gì để bảo vệ chủ quyền  trên hai quần đảo cũng như  trên biển Đông? Tính 

khả thi của những hành động này? Bài tập nhỏ này sẽ cố gắng giải quyết những thắc mắc 

này và trong khả năng có hạn phần trình bày nhất định sẽ có nhiều thiếu sót, em rất mong 

 

được sự góp ý và bổ sung của các thầy cô và những người quan tâm tới vấn đề này. Xin 

chân thành cảm ơn! 

II.   BỐI CẢNH 

1. Vai trò của vùng biển Nam Trung Hoa ( biển Đông ) và hai quần đảo Trường Sa 

Hoàng Sa 

Trong  thế kỷ 21,  ít nhất về phương diện kinh  tế và quân sự, không  thể phủ nhận vai  trò 

quan trọng ngày càng gia tăng của Biển Đông đối với các quốc gia trong vùng Đông Nam 

Á,  bao  gồm  Brunei,  Campuchia,  Đông  Timor,  Indonesia,  Lào  (không  có  lãnh  hải), 

Malaysia, Myanma, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Ngoài ra, Biển Đông 

còn là nguồn cung cấp hải sản, dầu thô, và khí đốt rất đáng kể. Một số khảo sát cho thấy 

Biển Đông chứa  lượng cá và các nguồn dầu mỏ, khí gas  tự nhiên có giá  trị  lên đến một 

nghìn tỷ đôla. Vào năm 1988, Biển Đông chiếm 8% tổng số lượng đánh bắt cá và hải sản 

của thế giới, một con số chắc chắn còn có thể tăng lên. Theo con số điều tra, tổng lượng 

hải sản vùng này ước lượng và khoảng 9,26 triệu tấn với mật độ trung bình 15,93 tấn/km2

 

Vùng này đã được xác định có trữ lượng dầu mỏ khoảng 1.2 km³ (7.7 tỷ barrel), với ước 

tính tổng khối lượng là 4.5 km³ (28 tỷ barrel). Trữ lượng khí gas tự nhiên được ước tính 

khoảng 7.500 km³ (266 nghìn tỷ feet khối).

1

 

Đây cũng là một trong những vùng có mật độ hàng hải đông đúc nhất trên thế giới. Biển 

Đông là thủy đạo nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua Eo biển Malacca, nối 

châu Á với châu Âu, châu Úc với Trung Đông. Mọi di chuyển bằng hàng hải giữa các 

quốc gia  thuộc Vành đai Thái Bình Dương với vùng Đông Nam Á, Ấn Độ, Tây Á, Địa 

Trung Hải, và xuống châu Úc, đều thường xuyên đi qua vùng biển này. Biển Đông nằm 

ngay  trên  ngã  tư  đường  hàng  hải  từ  phía Bắc  (Trung Hoa, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật 

Bản ) xuống Nam ( Malaysia, Indonesia, Châu Úc) và từ Tây ( châu Âu, châu Phi, Trung 

Đông, Ấn Độ) sang Đông ( Indonesia, châu Mỹ, Châu Úc, Philippins). Nơi thông thương 

của ¼ thương mại thế giới. Trong thập niên 1980, mỗi ngày có ít nhất 270 lượt tàu đi qua 

Biển Đông, và hiện tại hơn một nửa số tàu chở dầu siêu cấp của thế giới chạy qua vùng 

 

biển này hàng năm. Lượng  tàu  chở dầu  chạy qua Biển Đông  lớn gấp ba  lần  lượng  tàu 

chạy qua kênh Suez và gấp năm lần lượng tàu qua Kênh đào Panama; gần 20% lượng dầu 

thô  trên  thế giới được chuyên chở ngang qua Biển Đông. Giao  thông ổn định qua vùng 

này là một điều kiện tiên quyết cho sự mở rộng của thương mại quốc tế. 

Hoàng Sa Trường Sa là hai quần đảo nằm trên thủy lộ đó. Những xung đột đẫm máu và 

các tranh chấp căng thẳng trên Biển Đông cho thấy chủ quyền của Hoàng Sa Trường Sa 

là then chốt trong việc nắm quyền kiểm soát thuỷ đạo quan trọng bậc nhất của Đông Nam 

Á và bậc nhì của thế giới cũng như quyền kiểm soát chiến lược trong việc tự do đi lại của 

tàu bè nước ngoài và các máy bay quân sự. 

Thế kỷ 21 cũng được coi là thế kỷ của Biển : Các chiến lược gia cho rằng nền kinh tế thế 

giới tăng trưởng với mức 6%/năm, dân số tăng khoảng 2%/năm và với trình độ công nghệ 

như hiện nay thì chỉ khoảng 20 năm nữa trên đất liền các nguồn tài nguyên sẽ bị cạn kiệt 

với trình độ như hiện thời thì không thể giải quyết vấn đề đói nghèo, ôi nhiễm môi trường 

và thất nghiệp…Vì thế nhân loại sẽ chuyển hướng ngành công nghệ mũi nhọn của mình 

và một trong số đó có công nghệ Đại dương1

Những thông tin trên chỉ là một phần nhỏ các dữ liệu về biển Đông tuy nhiên nó cũng cho 

chúng ta thấy tầm quan trọng của vùng này đối với sự phát triển của các quốc gia trong 

vùng cũng như vai trò của nó với thương mại và kinh tế thế giới. Do vậy thật dễ hiểu khi 

các nước đều muốn nắm chủ quyền đối với vùng biển này. Thậm chí có quan điểm cho 

rằng “Ai chiếm được Trường Sa Hoàng Sa sẽ làm chủ được biển Đông”. 

2. Các bên tranh chấp 

a, Tranh chấp trên quần đảo Hoàng Sa  

Việc tranh chấp quần đảo Hoàng Sa luôn luôn không giống nhau căn cứ vào những thay 

đổi chính trị diễn ra trên trường quốc tế. Trước năm 1954 tranh chấp nổ ra giữa Pháp (với 

tư cách là nước bảo hộ cho An Nam), Trung Quốc và Nhật. Tiếp đến sự thất bại của Nhật 

sau  chiến  tranh  thế  giới  thứ  II  buộc Nhật  phải  từ  bỏ  việc  tranh  chấp  quần  đảo  từ  năm 

1951, nhưng lại để ngỏ sự thừa kế hai đảo này. 

Cũng trong thời gian này, Trung Quốc được chia thành hai quốc gia từ năm 1949 thay thế 

cho quốc gia duy nhất Trung Quốc  trước kia. Mỗi nước này đòi hỏi phải có chủ quyền 

với    quần  đảo Hoàng  Sa  vì  quyền  lợi  của  riêng mình,  đó  là  nước Cộng  hòa  nhân  dân 

Trung Hoa và Cộng hòa Trung Quốc (Đài Loan).  

Về phía Pháp, Pháp rút lui khỏi Trung Quốc khi kết thúc chế độ thuộc địa ở Đông Dương, 

và nước An Nam  trở  thành Việt Nam đứng  rat hay  thế họ. Như vậy  từ năm 1954, việc 

tranh chấp chỉ còn diễn ra giữa Việt Nam, Đài Loan và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. 

b, Tranh chấp trên quần đảo Trường Sa 

Trước năm 1945, tranh chấp diễn ra giữa Pháp và Nhật. 

Sau năm 1945,  tranh chấp kéo  theo nhiều nước khác,  trong đó có Việt Nam, Cộng hòa 

nhân dân Trung Hoa, Đài Loan, Philippins. 

Khái quát  lý do  thay đổi các bên  tranh chấp  : Là do Pháp  rút khỏi Đông Dương và  thất 

bại của Nhật sau chiến tranh. 

III.   VIỆN DẪN CỦA TRUNG QUỐC 

Trung Quốc cũng viện dẫn quyền khám phá và sự hành xử chủ quyền trên hai quần đảo 

Hoàng Sa và Trường Sa. 

      Trung Quốc đã khẳng định rằng mình đã khám phá ra hai quần đảo tranh chấp từ đời 

nhà Hán, năm 206  trước Công nguyên. Tuy nhiên, có  tác giả Trung Hoa  lại xác định  là 

những  tài  liệu  sớm nhất  ghi  chép  sinh hoạt  của người Trung Hoa  trên những đảo này, 

thuộc đời nhà Tống (thế kỷ XIII). Bên cạnh đó họ còn viện dẫn các sách sử trước, trong 

và sau thế kỷ XIII. 

Sự chiếm đóng chính thức diễn ra vào năm 1946 là năm một đội quân đồn trú cũng như 

nhiều nhóm thanh tra được cử ra quần đảo Hoàng Sa. 

Những dữ kiện mà Trung Quốc và  các  tác giả Trung Hoa đưa  ra để  chứng minh mình 

hành xử  chủ quyền  trên hai quần đảo  gồm  có: những  cuộc  thanh  tra, những  cuộc  viễn 

chinh, và những di vật đào bới được từ các đảo. Vào năm 1974 các đoàn khảo cổ  thuộc 

viện bảo  tàng  tỉnh Quảng Đông đã cho biên soạn và xuất bản một  tài  liệu về các đồ  tạo 

tác của người Trung Quốc tìm thấy ở Hoàng Sa, phần lớn các đồ vật tìm thấy là các đồ sứ  

có niên đại từ đầu thời nhà Minh. Bằng chứng này đã nhanh chóng tạo cơ sở cho một số 

bài báo phổ biến về  lịch sử Hoàng Sa cũng như cho một cuốn phim  tài  liệu dài một giờ 

đồng hồ sản xuất năm 1975 của Quân giải phóng Nhân dân (PLA) và các đơn vị du kích 

địa phương ở quần đảo này, nhan đề “Các hòn đảo biển Đông” 

1

 

     Trung Hoa ngày xưa đã viện dẫn Hiệp ước Pháp – Thanh ký năm 1887 để khẳng định 

rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về mình. Sau này, phát ngôn viên của Trung Quốc và 

các tác giả Trung Quốc đều nhiều lần dùng Hiệp ước này để khẳng định Hoàng Sa thuộc 

về Trung Quốc.Một số tác giả trên đã trích đoạn sau đây của Hiệp ước để khẳng định chủ 

quyền của Trung Quốc.  

     “Từ Quảng Đông,  những  điểm  tranh  chấp  nằm  từ  phía  đông  đến  phía  tây  bắc  của 

Móng Cái, ngoài biên giới đã được hai phái bộ xác định,  có  thể  coi  là  thuộc về Trung 

Quốc. Những hòn đảo nằm ở phía đông dọc đường kinh tuyến đông 105°43’ của Paris, có 

nghĩa  là  trục bắc-nam đi qua điểm phía đông  của đảo Tch’a Kou hay Ouan-Chan  (Trà 

Cổ) và  làm  thành đường biên giới,  cũng  thuộc về Trung Quốc. Các đảo Go-tho và  các 

đảo khác nằm phía tây của đường kinh tuyến thuộc về An Nam.” 

      Các tác giả trên lý luận rằng vì Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở phía đông kinh tuyến 

Paris 105°43’ nên thuộc về Trung Quốc.

2

 

Trung Quốc nói rằng Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo 

Hoàng Sa vì những dữ kiện sau đây: 

     Ngày  15  tháng  6  năm  1956, Thứ  trưởng Bộ Ngoại  giao  của Việt Nam Dân  chủ 

Cộng hòa đã nói rằng “theo những tài liệu của Việt Nam, trên phương diện lịch sử, Xisha 

và Nansha thuộc lãnh thổ của Trung Quốc.” 

      Công hàm  của Thủ  tướng Phạm Văn Đồng  gửi  cho Thủ  tướng Chu Ân Lai  vào 

ngày 14  tháng 9 năm 1958: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và 

tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa 

quyết định về hải phận của Trung Quốc.Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn 

trọng quyết định ấy và sẽ chỉ  thị cho các cơ quan Nhà nước có  trách nhiệm  triệt để  tôn 

 

trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân 

Trung Hoa trên mặt bể.” 

      Ngày 9 tháng 5 năm 1965, nhân lúc Mỹ leo thang chiến tranh tại Việt Nam và ấn 

định những vùng chiến thuật, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên bố Xisha thuộc chủ 

quyền của Trung Quốc. 

Các tuyên bố và thông cáo báo chí : 

Tuyên bố ngày 15/8/1951 của Chu Ân Lai: “Tất cả những hòn đảo như là toàn bộ những 

hòn đảo Nam Sa, Đông Sa, Trung Sa, Tây Sa [quần đảo Hoàng Sa] và Nanwei [quần đảo 

Trường Sa] xưa nay vẫn là những lãnh thổ của Trung Quốc.” 

Thông báo của Bộ Ngoại Giao nước CHND Trung Hoa ngày 20/1/1974 “không ai không 

biết  rằng  các  đảo Tây  Sa  cũng  như  các  đảo Nam  Sa…  vẫn  là  các  lãnh  thổ  của Trung 

Quốc”

1

 

Ngày 25/2/1992 họ ban bố Pháp lệnh mới về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải trong đó 

có nhắc lại yêu sách của Trung Quốc với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

2

 

 

IV.   TÍNH TOÁN CỦA TRUNG QUỐC 

1.Xuất phát điểm của những tính toán 

Yếu  tố  tranh  chấp  phần  nào  xuất  phát  từ  việc  khai  thác  nguồn  tài  nguyên  thiên  nhiên 

được cho  là vô cùng phong phú ở vùng biển này, đặc biệt  là  trữ  lượng dầu mỏ dồi dào 

của nó. Đã đến  lúc Trung Quốc bừng  tỉnh dậy  sau một  thời  kỳ dài  thiếu quan  tâm  tới 

vùng  biển Nam  Trung Hoa,  đó  cũng  là  thời  điểm  phát  triển  của  luật  quốc  tế  về  biển. 

Những nguyên  tắc về Vùng đặc quyền Kinh  tế và cách  tính của nó đã mở  ra khả năng 

Trung Quốc đưa ra tuyên bố chủ quyền với phần còn lại của biển Đông (biển Nam Trung 

Hoa). Có thể thấy rằng nhu cầu về năng lượng của Trung Quốc đã bắt đầu vượt quá khả 

năng khai  thác của họ ở đại  lục Trung Hoa. Sự phát  triển kinh  tế chóng mặt với những 

nhu  cầu  năng  lượng  buộc Trung Quốc  bắt  đầu  phải  nhập  khẩu  dầu. Một  nhân  tố  khác 

 

Link download pdf cho anh em:

http://cloud.liketly.com/nU1wqEagh1DWG4F

Captcha Challenge
1 2 , 0 0 3 , 0 2 3 Members

English (US) | العربية (ع) | Deutsch (DE) | Español | Français | Indonesia | Italiano (IT) | Português (Brasil) | Russia (RU) | Tiếng Việt